-crf 30: Constant Rate Factor. It refers to video quality. 0 means the best quality, 40+ means super compressed, worse quality. (tbh, I only test Constant Rate Factor 30)
-b:v 0: Do not configure fixed video bitrate.
-f segment -segment_time 3600: For each one hour, create a video file.
-reset_timestamps 1: when create video, start timestamps at 1 (by default, it starts from the end timestamps of previous video)
-strftime 1 "%Y-%m-%dT%H%M%S.webm": Output with filename format.
Credit
ChatGPT helps me so much with ffmpeg, without it, I can’t understand all the ffmpeg options quickyly.
Bài viết này miêu tả những kỹ thuật và lưu ý mà tôi đã học được để sử dụng cảm biển ZMPT101B.
Ngay khi mua cảm biến ZMPT101B, cần tinh chỉnh triết áp với Serial Plotter, xung không nên bị bè ở đầu, mất góc ở đỉnh.
Tiếp theo, tìm giá trị tham chiếu zero point ở 0 voltage AC.
Cuối cùng là tìm hệ số chuyển đổi Scale.
Mỗi cảm biến lại có những sai số khác nhau, hoàn toàn không thể sử dụng hệ số chuyển đổi (SCALE)của cảm biến này áp dụng cho cảm biển khác, mặc dù là cùng một model.
1. Vặn triết áp và theo dõi trên Serial Plotter
Trước khi điều chỉnh, bắt buộc phải cắm dây điện xoay chiều vào cảm biến ZMPT101B. Bên cạnh đó, phải có phần mềm Arduino-IDE, mở công cụ Serial Plotter. Arduino-CLI không có tính năng này.
Việc điều chỉnh triết áp dựa trên các tiêu chí sau:
Giá trị / biên độ là lớn nhất khi xem trên Serial
Đỉnh của sóng không được phép bè ra, mất góc nhọn.
14:11:15.109 -> Zero Point: 511
14:11:16.106 -> Zero Point: 511
...
14:11:22.113 -> Zero Point: 511
14:11:23.109 -> Zero Point: 511
Bên cảm biến của tôi, kết quả là 511.
3. Tìm hệ số chuyển đổi scale
Ở đoạn này bắt buộc phải có đồng hồ chính xác bên ngoài, đo trước hiệu điện thế điện xoay chiều AC. Sau đó, gài giá trị vào EXPECTED_VOLTAGE
ở đoạn code dưới đây và chạy. Khi chạy code, đảm bảo dây AC cần đo đã gắn vào cảm biến ZMPT101B chắc chắn.
Ở bên nhà tôi, hiệu điện thế đo được là 233V (Hoàn toàn không phải là 220V đâu nhé). Giá trị scale tôi thu được là 1.38
#include<math.h>constintZMPT101B_PIN=A0;constfloatEXPECTED_VOLTAGE=233.0;constunsignedintzeroPoint=511;constintWINDOW_TIME=1000;unsignedlongsumOfSquareOfSampleDataMinusZeroPoint=0;unsignedlongsampleCounter=0;unsignedlongstartTime;floatrootMeanSquare=0.0f;voidsetup(){Serial.begin(115200);startTime=millis();}voidloop(){intsampleData=analogRead(ZMPT101B_PIN);sumOfSquareOfSampleDataMinusZeroPoint+=(sampleData-zeroPoint)*(sampleData-zeroPoint);sampleCounter+=1;if(millis()-startTime>=WINDOW_TIME){rootMeanSquare=sqrt((float)sumOfSquareOfSampleDataMinusZeroPoint/sampleCounter);floatscale=EXPECTED_VOLTAGE/rootMeanSquare;Serial.print("Root Mean Square: ");Serial.print(rootMeanSquare);Serial.print(" (in ");Serial.print(sampleCounter);Serial.print(" samples). Scale: ");Serial.println(scale);sumOfSquareOfSampleDataMinusZeroPoint=0;sampleCounter=0;startTime=millis();}}
14:04:15.083 -> Voltage: 233.00 | Root Mean Square: 168.56 (in 17856 samples) | Scale: 1.38
14:04:17.108 -> Voltage: 233.00 | Root Mean Square: 168.53 (in 17855 samples) | Scale: 1.38
14:04:19.099 -> Voltage: 233.00 | Root Mean Square: 168.69 (in 17855 samples) | Scale: 1.38
14:04:21.088 -> Voltage: 233.00 | Root Mean Square: 168.73 (in 17855 samples) | Scale: 1.38
Phương pháp như sau:
Tính toán giá trị hiệu dụng (Root Mean Square - RMS) của giá trị sensor với giá trị tham chiếu (zero point) trong một khoảng thời gian (WINDOW_TIME)
Kết hợp với giá trị hiệu điện thế AC đo đạc từ một đồng hồ đo điện khác (EXPECTED_VOLTAGE)
Tồn tại sự tương quan giữa giá trị hiệu dụng của sensor và hiệu điện thế EXPECTED_VOLTAGE, tỷ lệ này ta gọi là SCALE(Hệ số chuyển đổi)
Tính toán tỷ lệ SCALE = EXPECTED_VOLTAGE / RMS
4. Tìm giá trị hiệu điện thế tức thời
Sau khi tìm được giá trị SCALE - hệ số chuyển đổi, ví dụ cảm biến cho ta giá trị là X, muốn tìm ra hiệu điện thế tức thời, ta làm như sau:
Vtức_thời = (X - ZeroPoint) * Scale
5. Lưu ý
Một khi đã tinh chỉnh xong, không được phép vặn triết áp. Nếu mà lỡ vặn, phải làm lại từ đầu.
Tôi không sử dụng Arduino-IDE mà sử dụng arduino-cli để tạo project ($ arduino-cli sketch new i2c_address_finder).
Sau khi tạo xong project, hãy thay đổi nội dung của file .ino giống như dưới đây, trước khi copy-paste, hay để tôi giải thích về quy trình:
Thư viện Wire dành cho giao thức với I2C. Method Wire.begin() dùng để xác lập board arduino chúng
ta đang sử dụng sẽ đóng vai trò là MAIN. Các linh kiện sensor, màn hình bên ngoài sẽ đóng vai trò là SUB.
Chúng ta muốn là arduino khi tìm được address I2C sẽ in ra trên màn hình monitor cho chúng ta xem. Giai đoạn này sẽ phụ thuộc vào Serial
Serial.begin(__baudrate__): Xác định truyền tín hiệu với giao thức Serial cùng baudrate. Trong code là 9600 (Liên quan đến bước )
Serial.print("__text__"): In text trên màn hình monitor
Địa chỉ I2C được miêu tả bởi 7 bit, có số lượng tối đa là 128 giá trị. Theo như tài liệu, trong số 128 giá trị khả dĩ, sẽ có các địa chỉ đặc
biệt, không được sử dụng cho thiết bị SUB. Trong code dưới đây, chúng ta vẫn sẽ quét qua. Và sử dụng hai method sau:
Wire.beginTransmission(__byte_address__): Khởi tạo kết nối đến SUB với địa chỉ __byte_address__
Wire.endTransmission(): Đóng kết nối, nếu giá trị trả về bằng 0 thì nghĩa là đã kết nối và đóng thành công. Ta tìm được địa chỉ I2C hợp lệ.
Serial.println(i, HEX): In giá trị address ở dạng hexadecimal
#include<Wire.h>voidsetup(){Wire.begin();Serial.begin(9600);delay(1000);Serial.println("Hexalink.xyz");Serial.println("Scanning...");}voidloop(){for(bytei=0;i<128;i++){Wire.beginTransmission(i);if(Wire.endTransmission()==0){Serial.print("Found at 0x");Serial.println(i,HEX);}}delay(2000);}
Bước 1: Find board & port
$ arduino-cli board list
Port Protocol Type Board Name FQBN Core
/dev/ttyACM0 serial Serial Port (USB) Arduino UNO arduino:avr:uno arduino:avr
Fully Qualified Board Name (FQBN): arduino:avr:uno
Port: /dev/ttyACM0
Bước 2: Compile
$ arduino-cli compile --fqbn arduino:avr:uno
Sketch uses 3704 bytes (11%) of program storage space. Maximum is 32256 bytes.
Global variables use 428 bytes (20%) of dynamic memory, leaving 1620 bytes for local variables. Maximum is 2048 bytes.
$ arduino-cli monitor -p /dev/ttyACM0 --config 9600
Monitor port settings:
baudrate=9600
bits=8
dtr=on
parity=none
rts=on
stop_bits=1
Connecting to /dev/ttyACM0. Press CTRL-C to exit.
Scat 0x27
Scanning...
Found at 0x27
Found at 0x27
Xem trên monitor, địa chỉ I2C 0x27 đã tìm được.
Credit
Kiến thức này là tôi lấy được từ nhiều nguồn, bao gồm cả ChatGPT để hiểu I2C và Serial trong bài viết này. Cảm ơn ChatGPT.
Hôm nay là 18/3/2026, tôi vừa update toàn bộ dependencies lên version mới nhất. Dự án chính thức chuyển sang trạng thái bảo trì.
Với các dự án tôi làm, tôi luôn cố gắng update library định kỳ (khoảng mỗi tháng một lần). Tin tôi đi, không ai muốn bảo trì một codebase cũ kỹ, lâu không update.
Ví dụ đơn giản: năm 2026 mà phải maintain Phoenix 1.0.0 trong khi hiện tại là 1.8.x — cảm giác không dễ chịu chút nào đâu.
Quay lại dự án này, nó sinh ra nhằm giải quyết các câu hỏi sau:
Làm sau để biết món hàng X đang ở đâu trong 30,000m2, 20 khu trưng bày?
Lịch sử giá bán, số lượng ra sao, ai là người thay đổi?
Mỗi khách hàng lại cho giá khác nhau, làm sao để điều chỉnh giá cho từng người?
Từ khi hàng trong kho cho đến tay khách hàng, trải qua những bước gì, ai giảm sát?
Khách hàng không hài lòng, muốn trả hàng, quy trình ra sao, ai giảm sát?
Trong số hàng hóa trả lại, có bao nhiêu cái có thể đưa lên kệ và bán tiếp?
Hàng hóa bao nhiêu lâu rồi chưa có người đến kiểm tra, đối soát?
Dự án này tôi làm một mình từ giai đoạn phân tích nghiệp vụ, viết phần mềm, triển khai.
Tôi đặc biệt không thích lạm dụng cloud, hay thêm nhiều technical stacks. Mỗi technical stack lại làm
cho người bảo trì đến sau mệt mỏi hơn một chút. Bên cạnh đó, phần cứng hiện tại đã quá rẻ, lượng data
cũng không lớn đến mức mà cần phải tối ưu hóa database, khách hàng cũng không cần hệ thống hoạt động
24/7 uptime 99%.
Càng đơn giản thì càng tốt. Tôi muốn như vậy.
Từ commit đầu tiên ngày 4/7/2025, đến hôm nay là 18/3/2026:
Khoảng 9 tháng phát triển phần mềm
Chính xác 777 commits - số đẹp 😇
Nhìn chung, tôi rất hài lòng với kết quả của dự án này, nó thực sự mang lại giá trị cho người dùng.
Hey, quên mất một cái rất quan trọng là tôi không chỉ viết phần mềm, tôi còn đến tận nơi, thu thập và nhập
dữ liệu vào hệ thống. Bằng cách thực làm và quan sát, tôi hiểu nỗi đau và tối ưu hóa nghiệp vụ tốt hơn ai
hết.
Có ba thứ mà tôi cực kỳ tâm đắc khi làm dự án này.
1. Luôn luôn cho phép con người sửa lỗi cho dù họ có làm điều ngu ngốc như thế nào chăng nữa
Việc lưu lại lịch sử thay đổi, có giá trị cũ và mới giúp người dùng sửa sai nếu có nhầm lẫn.
Tuyên ngôn là sai thì sửa, chửa thì đẻ.
Ngoại trừ việc sinh tử, tất cả thứ khác là chuyện nhỏ.
2. Không phải lúc nào cũng cần message queue.
Nếu dữ liệu chỉ được update bởi một hành động tại một thời điểm, không cần thêm queue.
Thay vào đó, mình dùng một cơ chế đơn giản gọi là Totem(tín vật):
Muốn update đơn hàng -> phải có Totem
Không có -> không được update
Update xong -> trả lại Totem
Nếu lỗi -> hệ thống tự thu hồi sau 15s
Nó giống như tín hiệu đường sắt: Chỉ một tàu được chiếm dụng đường ray tại một thời điểm.
Với hệ thống nhỏ, cách này đủ dùng, đơn giản.
❌ Tôi đã từng debug system sử dụng Kafka rồi, cảm ơn, quá đủ rồi ❌
3. Không nên lạm dụng AI trong quá trình nhập dữ liệu.
Dữ liệu đúng ngay từ đầu tốt hơn là phải xử lý hậu kỳ. Khi dữ liệu đến tay mình đã đúng, hệ thống phía sau nhẹ đi rất nhiều.
Tôi sẽ nói sơ qua một chút về khó khăn
Mỗi sản phẩm đều cần:
Dán tem (QR code + mã định danh)
Chụp ảnh
Nhập dữ liệu
Yêu cầu phải quét QR Code làm tăng đáng kể thời gian nhập liệu.
Giải pháp sau nhiều lần tối ưu đó là:
Phát triển app Android khác có tên là Batch Shot, nhằm mục tiêu chụp ảnh sản phẩm và chia ảnh vào folder riêng.
Trong quá trình chụp ảnh, quét luôn mã QR Code, bỏ vào file data.json trong từng folder. Khai thác tối đa dữ liệu
lúc chụp ảnh, không đợi phải xử lý hậu kỳ cho QR Code.
Sau một ngày chụp ảnh sản phẩm, zip toàn bộ thư mục ảnh, gửi lên server.
Server sau đó giải nén, có giao diện để nhập dữ liệu
Các field có tính lặp lại đều có cache, không cần chọn lại khi nhập dữ liệu mới.
Kết quả là tôi giảm cực kỳ nhiều số thao tác khi nhập dữ liệu, tốc độ tăng nhanh đáng kể.
Viết đến đây cũng đã rất dài rồi, tôi sẽ share một vài hình ảnh không quá riêng tư. 😇
[1] Phòng trưng bày tư nhân[2] Danh sách di sản[3] Chi tiết di sản[4] Lịch sử thay đổi